Qua mùa công bố kết quả kinh doanh đầu năm 2026, bốn tập đoàn hạ tầng đám mây lớn nhất thế giới đều nâng kế hoạch chi tiêu vốn. Amazon đưa con số cả năm lên khoảng 200 tỷ đô la. Alphabet nêu vùng 175 tới 185 tỷ. Meta đặt khoảng 115 tới 135 tỷ, rồi nói với nhà đầu tư hồi tháng 4 rằng mức thật có thể chạm 145 tỷ.
Microsoft không công bố theo năm dương lịch nên phải quy đổi; giới phân tích ước quanh 175 tỷ. Cộng bốn công ty lại, tổng chi tiêu vốn dự kiến cho năm 2026 nằm ở vùng 690 tỷ đô la. Năm 2025 con số đó là khoảng 410 tỷ.
Meta nêu thẳng lý do khi nâng dự toán: chi phí linh kiện và chi phí dựng trung tâm dữ liệu cao hơn tính toán ban đầu. Không phải vì họ muốn xây thêm, mà vì cùng lượng công trình đó nay đắt hơn.
Phần lớn số tiền này không đi vào phần mềm. Nó đi vào đất, nhà xưởng, trạm điện, hệ thống làm mát, chip xử lý đồ hoạ và chip tự thiết kế. Giới phân tích ước khoảng ba phần tư tổng chi tiêu là hạ tầng phục vụ trí tuệ nhân tạo. Chu kỳ này nặng về vật chất hơn mọi chu kỳ mà ngành công nghệ trải qua trong nhiều thập kỷ.
Nút thắt không phải tiền
Chỗ đáng đọc trong các báo cáo năm nay không phải con số chi tiêu. Nó nằm ở lý do các công ty nêu ra khi giải thích vì sao doanh thu không tăng nhanh hơn nữa.
Microsoft từng nói họ có chip trong kho mà không có chỗ để cắm điện lắp vào. Một câu như thế thuộc về ngành luyện thép hơn là ngành phần mềm. Nhưng nó mô tả đúng tình hình: tiền không còn là thứ khan hiếm nhất, điện mới là.
Điện đo bằng năm, không đo bằng quý
Số liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho thấy quy mô vấn đề. Trung tâm dữ liệu trên toàn cầu tiêu khoảng 415 terawatt giờ trong năm 2024, chừng 1,5% tổng lượng điện thế giới. Tới năm 2030, con số dự báo tăng gấp đôi lên quanh 945 terawatt giờ.
Nhịp tăng khoảng 15% mỗi năm. Cơ quan này ước nó nhanh hơn bốn lần so với mức tăng điện của tất cả các ngành khác cộng lại.
Nhưng điện có đủ ở đâu đó không có nghĩa là đưa được tới nơi cần. Ở Hoa Kỳ, thời gian trung bình từ lúc nộp đơn xin đấu nối lưới tới lúc vận hành thương mại đã kéo dài ra. Từ dưới hai năm hồi 2008 lên gần năm năm vào 2024. Trong số dự án nộp đơn giai đoạn 2000 tới 2018, chỉ khoảng một phần năm đi tới vận hành thương mại tính đến cuối 2023.
Hàng chờ đấu nối vì thế là thứ giới hạn tốc độ thật, chứ không phải năng lực sản xuất chip. Một trung tâm dữ liệu xây xong trong mười tám tháng vẫn có thể nằm im vài năm chờ đường dây.
Dòng vốn đi tìm chỗ còn dư địa
Chuyện đó giải thích một phần vì sao vốn trung tâm dữ liệu đang tìm sang Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Khi thị trường truyền thống hết chỗ đấu nối, nhà đầu tư đi tìm nơi còn đất và còn điện.
Nhưng nó cũng đặt ra câu hỏi cho chính hệ thống điện trong nước. Một trung tâm dữ liệu quy mô lớn tiêu điện ngang một khu công nghiệp. Nhu cầu đó cộng vào một lưới vốn đã phải cân giữa sản xuất, dân sinh và các ngành khác. Thu hút được dự án và cấp đủ điện ổn định cho dự án là hai bài toán khác nhau.
Với doanh nghiệp đi thuê hạ tầng, phần chạm tới túi tiền nằm ở chỗ khác. Chi phí điện là thành phần lớn trong giá thuê chỗ đặt máy và giá thuê máy chủ. Giá điện đổi hoặc mức tiêu thụ đổi thì giá thuê chịu sức ép theo, thường sau vài tháng.
Vì vậy trong hợp đồng dài hạn, điều khoản đáng đọc kỹ là cơ chế điều chỉnh giá, chứ không phải con số hôm ký. Hợp đồng ba năm giá cố định và hợp đồng ba năm trượt theo giá điện là hai thứ rất khác nhau. Bảng chào giá thì nhìn giống hệt. Chúng tôi hay chỉ khách xem đúng đoạn đó trước khi bàn tới cấu hình.
Ngành hạ tầng vừa quay lại làm một ngành công nghiệp nặng, với những giới hạn rất vật chất về điện, đất và thời gian xây dựng. Năng lực tính toán hoá ra không phải nguồn tài nguyên vô hạn như cách nó được bán ra suốt mười năm qua.
